Trong bối cảnh du lịch ngày càng phát triển đa dạng về loại hình và trải nghiệm, du lịch diễn xướng dân gian đang trỗi dậy như một làn sóng mạnh mẽ, những nhịp phách cung đàn và kho tàng diễn xướng cổ truyền luôn được tiếp nối, giữ lửa qua nhiều thế hệ. Việt Nam – vùng đất của ngàn năm chương khúc vang vọng bốn phương, từ tiếng cồng chiêng đại ngàn huyền bí đến làn điệu cải lương đờn ca tài tử Nam Bộ trải dọc sông hồ, kết tinh trọn vẹn đời sống tinh thần hào sảng và lòng biết ơn nguồn cội – du lịch diễn xướng dân gian không đơn thuần là hành trình nghe hát, xem ca mà còn là cuộc đại hội ngộ giữa quá khứ và đương đại, nơi du khách được chạm vào tâm hồn của một dân tộc, đồng thời kích giữ sức sống cho những di sản phi vật thể trường tồn cùng thời gian.
Diễn xướng dân gian là loại hình thức nghệ thuật biểu diễn dân gian được người diễn dùng giọng nói cách điệu như hát, dựa trên thanh điệu và ngữ điệu câu từ, theo một âm điệu tùy hứng hoặc có sẵn, để truyền tải thông tin, một thể văn dân gian truyền miệng. Sự xướng lời không theo một khuôn mẫu chung nào, hoàn toàn tùy thuộc người diễn xướng, được lặp đi lặp lại cho đến hết thông tin cần truyền tải (ca dao, thành ngữ, truyền thuyết, truyện cổ tích, sử thi, bài cúng…).
Diễn xướng là phương thức chủ yếu được sử dụng để thực hành và trao truyền tri thức dân gian. Nhờ diễn xướng, những hình thức bao chứa tri thức dân gian (kinh nghiệm sống, tín ngưỡng dân gian) như thành ngữ, ca dao, truyền thuyết, bài cúng tế..., vốn tồn tại trong tâm trí con người, được hiển hiện ra bên ngoài, phục vụ đời sống của một cộng đồng, một dân tộc. Những hiện tượng diễn xướng tiêu biểu hiện còn trong đời sống dân gian bao gồm hát kể (sử thi, truyện thơ, truyền thuyết), xướng bài văn cúng trong tế lễ (tang ma, cúng thần linh...). Mỗi dân tộc Việt Nam có cách gọi riêng cho việc thực hành diễn xướng.
Ca dao, tục ngữ thường được đúc kết từ kinh nghiệm, tri thức, từ quá trình làm việc hoặc là những câu từ thể hiện tâm tư, tình cảm của những người dân lao động. Chính vì vậy mà những điệu hò rất gần gũi với người dân, dễ nhớ được lời và dễ dàng đi sâu vào lòng người.
Hò có thể được chia làm 3 hình thức chính: hò nghi lễ, hò sinh hoạt và hò trữ tình. Mỗi miền Nam, Bắc đều có đặc trưng riêng và không giống nhau do hoàn cảnh xã hội khác nhau tại 2 miền. Nếu như những câu hò ở miền Bắc trau chuốt, mượt mà, ý nhị thì những câu hò ở miền Nam lại tràn đầy vẻ phóng khoáng, vui tươi, hào sảng.
Ví Giặm là di sản văn hóa được Unessco công nhận là một loại hình dân gian đặc biệt gắn liền với người dân Nghệ - Tĩnh nên trong những câu hò Ví Giặm ta sẽ thường thấy nhiều câu có sử dụng khẩu ngữ địa phương. Những câu hò thường mang nhiều đề tài về thiên nhiên, quê hương, làng xóm, thể hiện tâm tư, tình cảm diễn đạt bằng những ngôn từ hoa mỹ, trau chuốt nhưng vẫn giữ được nét tế nhị, kín đáo, mang nhiều ẩn ý sâu xa. Ở Nam Bộ, cuộc sống người dân gắn liền với sông nước, nên những câu hò Nam Bộ có rất nhiều hình ảnh về các con sông, ao, hồ, kênh, rạch, tôm cá, thuyền bè. Những câu hò Nam Bộ thể hiện sự sảng khoái, bộc trực, đơn giản ít câu nệ những vẫn rất chân tình, gần gũi, hóm hỉnh.
Diễn xướng hò là một di sản văn hóa được thể hiện theo hình thức xướng – xô, là sẽ có một người hát xướng, những người còn lại phụ họa đáp lại gọi là xô. Về mặt cấu trúc, thời gian hò thường sẽ có 3 giai đoạn, là hò đố, hò huê tình, hò chia tay. Mỗi một câu hò lại có 3 phần: mở đầu là hò lấy hơi, lấy giọng (hò....ơ…….), tiếp theo là hò lời chính, cuối cùng là đoạn hò ngân dài.
Không gian diễn xướng của hò Ví Giặm thường là ở trên cạn hoặc trên sông, do địa hình khí hậu ở miền Bắc trung bộ khắc nghiệt hơn nên các điệu hò trên cạn thường gặp nhiều hơn, một số điệu hò nổi tiếng là: ví phường vải, ví phường nón, ví phường cấy, ví phường gặt, ví xay lúa, ví phường đan… Còn một số điệu hò trên sông là: Ví đò đưa sông La, Ví đò đưa sông Lam, Ví đò đưa nước ngược; Ví đò đưa chuyển phường vải. Hò Ví Giặm thường được tổ chức có quy mô, có các cuộc thi và địa chỉ cụ thể và có sự góp mặt của nhiều nhà Nho, học sĩ nổi tiếng.
Tuồng: loại hình nghệ thuật sân khấu kịch hát kịch hát ở Việt Nam. Tuồng có nhiều cách gọi như hát bộ, hát bội,... Tuồng được khởi xướng thời nhà Tiền Lê và có sự giao thoa, tiếp thu cách biểu diễn và hóa trang của hí kịch bên Trung Hoa. Tuy nhiên, lối hát tuồng du nhập vào nước ta khi nào thì hiện tại vẫn chưa xác định thời gian cụ thể.
Đặc điểm của Tuồng: các nghệ nhân biểu diễn phải hóa trang hoặc mang mặc nạ thể hiện đặc trưng nhân vật như: trung, gian, nịnh, hề, tướng,... Ngoài ca thì tuồng còn phải nói lối (hình thức ca - nói), cách đi đứng, ra bộ phải chuẩn xác cho từng thể loại nhân vật. Nội dung của tuồng mang đậm đề tài cung đình thường nói về lòng trung can, mưu mô tranh quyền đoạt vị,... Hình thức trình bày theo một câu chuyện có nội dung nhất thống.
Đờn ca tài tử Nam bộ là một dòng nhạc dân tộc của Việt Nam đã được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể vào ngày 5 tháng 12 năm 2013 và là một danh hiệu UNESCO ở Việt Nam có vùng ảnh hưởng lớn, với phạm vi 21 tỉnh thành phía Nam. Đờn ca tài tử hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ 19, bắt nguồn từ nhạc lễ, Nhã nhạc cung đình Huế và văn học dân gian. Đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng Nam Bộ. Đây là loại hình nghệ thuật của đàn và ca, do những người bình dân, thanh niên nam nữ nông thôn Nam Bộ hát ca sau những giờ lao động. Đờn ca tài tử đã xuất hiện hơn 100 năm trước, là loại hình diễn tấu có ban nhạc gồm bốn loại là đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và đàn bầu (gọi là tứ tuyệt). Về sau này, có cách tân bằng cách thay thế độc huyền cầm bằng cây guitar phím lõm. Những người tham gia đờn ca tài tử phần nhiều là bạn bè, chòm xóm với nhau. Họ tập trung lại để cùng chia sẻ thú vui tao nhã nên thường không câu nệ về trang phục.
Người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung, ở Sóc Trăng nói riêng, là những người yêu thích nghệ thuật. Phần lớn họ biết hát, biết múa những bài bản dân ca, dân vũ Khmer cơ bản, đơn giản, dễ nhớ, như các điệu múa Lâm thol, Saravan, Lâm lêv,… đặc biệt, họ rất thích Sân khấu Dù kê.
Để bắt đầu buổi biểu diễn Dù kê, người diễn phải thực hiện nghi thức cúng Tổ tại gia trang trọng và bài bản để cầu mong các vị thần phù hộ, ban phước lành cho chuyến lưu diễn gặp nhiều may mắn, bình an vô sự,…
Nhạc cụ sử dụng trong lễ cúng Tổ chủ yếu là trống đôi lớn, trống mẹ, trống con, trống đực và trống cái, cùng với cồng Khmốs. Khi cúng Tổ thì trống đôi lớn và cồng Khmốs đánh liên hồi 3 lần cho mỗi lần khấn vái, còn trống mẹ, trống con, trống đực và trống cái thì đánh đệm tiết tấu cho mỗi lần hát. Hát cúng Tổ gồm 03 bài hát chính: “Lăm muôi - Lăm pi”, “Ô ra Chhưng Chhưng”, “Đok Chom pi”. Sau khi kết thúc cúng Tổ, mọi người cùng hát bài kết “SariKakeo”.
Diễn xướng tín ngưỡng độc đáo và đặc sắc nhất của người Kinh chính là Hầu đồng (hay còn gọi là Chầu văn), một thành tố lõi thuộc di sản Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Loại hình này là một chỉnh thể nghệ thuật tổng hợp nguyên hợp đỉnh cao, kết hợp nhuần nhuyễn giữa âm nhạc biến hóa của hát chầu văn, văn học truyền khẩu qua các bài cung văn, nghệ thuật tạo hình sắc sỡ của trang phục và vũ đạo uyển chuyển theo từng giá đồng.
Thông qua các nghi thức nhập đồng, người diễn xướng đóng vai trò là chiếc cầu nối tâm linh giữa con người và thế giới thần linh nhằm gửi gắm ước vọng về sức khỏe, bình an và tài lộc trong cuộc sống hiện tại. Bên cạnh Hầu đồng, người Kinh còn sở hữu nhiều hình thức diễn xướng gắn liền với không gian tâm linh làng xã như Hát cửa đình (Ca trù) hay các làn điệu Hát thờ trong lễ hội Quan họ cổ, tạo nên một kho tàng văn hóa phi vật thể vô cùng phong phú và khác biệt.
Lựa chọn thời điểm dịch chuyển theo mùa ngân vang của nhạc cụ và làn điệu cổ truyền
Không gian diễn xướng không mở ra quanh năm mà chuyển động theo mạch ngầm của ba mùa âm thanh: mùa xuân khói hương (hát Bóng rỗi miếu Bà, hát Sắc bùa chúc Tết), mùa hạ sông nước (hò bả trạo, hò chèo ghe mùa nước nổi) và mùa thu đông phum sóc (kịch hát Dù kê, sân khấu Rô-băm). Để bắt trọn tần số của những di sản truyền khẩu, hãy lên lịch vào độ ra Giêng (tháng 1–3 âm lịch) hướng về các vùng đất miếu cổ miền Tây xem bà bóng múa mâm vàng, dâng bông giữa tiếng đờn cò chao chát; hoặc canh đúng dịp lễ Ok Om Bok (tháng 10 âm lịch) đổ về Trà Vinh, Sóc Trăng để nghe tiếng trống Skôr gõ nhịp, xem kịch hát Dù kê rực rỡ dưới bóng tháp chùa vàng.
Canh đúng tọa độ thời gian giúp bạn được tai nghe mắt thấy những ngón đờn, giọng ca độc bản lúc "mở màn nhung", tránh được những ngày vãn tuồng, khi gánh hát đã rã, nhạc cụ đã vào bao da và sân diễn dân gian chỉ còn lại sự im lìm của màn đêm miệt vườn.
Lắp ghép lịch trình ngày đầu: tiếp cận hậu trường, diện kiến "báu vật nhân văn" và nhập cuộc canh hát
Ngày đầu tiên, bạn nên đón những chuyến xe sớm để tiếp cận vùng lõi của không gian diễn xướng – có thể là một rạp hát dã chiến bên sông, sân chùa Khmer hay sàn gỗ của một buổi họp mặt tài tử. Khi vừa đến nơi, hãy ghé vào những quán trà đá bên hông rạp hoặc tìm đến nhà của trưởng ban nhạc lễ, bắt chuyện với các vị nghệ nhân lớn tuổi để nghe họ "so dây thử phím", kể về gốc tích của điệu hò, câu lý hay những bài bản tổ trong đờn ca tài tử.
Sau khi nạp năng lượng, hãy lách mình vào khu vực hậu trường – nơi thú vị nhất trước giờ mở màn, dùng ống kính bắt trọn khoảnh khắc nghệ nhân dặm phấn vẽ mặt Chằn, chỉnh sửa xiêm y lộng lẫy hay người ôm đờn kìm đang chau mày chỉnh dây gảy nốt dạo đầu. Khi hoàng hôn buông xuống và ánh đèn măng-sông hay đèn sân khấu thắp lên, hãy chọn một góc ngồi sát dàn nhạc ngũ âm hoặc dàn tài tử để cảm nhận độ rung của âm thanh. Cuối ngày, hãy lưu trú ngay tại các homestay miệt vườn hoặc nhà dân trong phum sóc để đón những canh hát đối đáp ngẫu hứng thâu đêm bên hiên nhà lộng gió.
Sắp xếp hành lý và bộ công cụ săn tìm âm thanh miệt vườn
Đối với du lịch diễn xướng, tủ đồ của bạn cần: những bộ trang phục tối màu, kín đáo (để không làm phân tán ánh sáng sân khấu và giữ sự tôn nghiêm khi ngồi gần dàn nhạc lễ), một chiếc áo khoác cản gió đêm sông nước, nón tai bèo che nắng lúc xem hò kéo ghe ngoài trời, và một đôi dép rổ hoặc giày lười dễ tháo mở khi phải liên tục ra vào chiếu trải, sàn chùa. Về công cụ tác nghiệp, thay vì chỉ chú trọng chụp ảnh, hãy ưu tiên một máy ghi âm chuyên dụng (hoặc micro định hướng gắn điện thoại) để thu trọn giọng hát mộc không qua loa đài; đi kèm là máy ảnh có ống kính khẩu độ lớn (F/1.4 - F/2.8) giúp bắt nét chuyển động múa tay uốn lượn, ánh mắt xuất thần của diễn viên kịch cổ trong điều kiện thiếu sáng của đêm hội.
Đặc biệt, đừng quên mang theo một chiếc đèn pin đội đầu để soi đường đi bộ dọc theo bờ kênh, bờ đê lúc nửa đêm khi vãn hát trở về nơi lưu trú, cùng vài viên pin dự phòng vì các thiết bị ghi âm, quay phim sẽ phải hoạt động liên tục suốt nhiều giờ liền theo dòng chảy của canh tuồng.
Bảo toàn cá nhân và ứng xử văn minh nơi chốn hậu trường, chiếu diễn
Khi hòa mình vào không gian nghệ thuật truyền khẩu, luôn chú ý quan sát và giữ khoảng cách an toàn với khu vực trình diễn võ thuật cổ truyền, các chặp tuồng có dùng binh khí thật, hoặc nghi thức múa lửa, ngậm lửa phóng hỏa của nghệ thuật hát Bóng rỗi. Tuyệt đối không tự ý chạm tay vào hệ thống nhạc cụ cổ (như dàn ngũ âm, đờn kìm, trống chầu), không tự tiện bước vào chiếu trải hành lễ hay vén màn nhung hậu trường khi chưa được sự đồng ý của bầu gánh nhằm tránh các va chạm làm hư hỏng đạo cụ quý và không vi phạm quy tắc tôn trọng nghệ nhân.
Nếu tham gia vào các điệu múa vòng tròn có tính tương tác cộng đồng cao như múa Lâm thôn, múa Sa-ra-van của người Khmer, hãy tuân thủ nhịp di chuyển chung theo hướng dẫn của người dẫn đầu, tránh các hành vi bông đùa quá khích làm đứt gãy mạch diễn xướng và luôn chú ý bảo quản tài sản cá nhân trước nạn móc túi nơi rạp hát dã chiến bằng cách quay ba lô, túi xách ra phía trước ngực.
Giải pháp giao thông và phương án dịch chuyển mùa cao điểm hội hát
Các tâm điểm diễn xướng dân gian quy mô (như vùng lõi phum sóc dịp Ok Om Bok hay các ngôi miếu Bà lớn dịp lễ Kỳ Yên) thường áp dụng lệnh cấm đường, phân luồng từ xa khiến giao thông nội khu ùn tắc, vì vậy bạn nên chủ động gửi phương tiện tại các bãi xe chính quy ngoài rìa và lựa chọn bách bộ dọc bờ đê, bờ kênh kết hợp xe lôi, xe điện trung chuyển để tiếp cận sân khấu.
Đối với các loại hình diễn xướng mang tính đặc thù địa hình sông nước như hò bả trạo ven biển, hò kéo ghe gành hay các chặp diễn xướng đối đáp trên sông gạch miệt vườn, hãy kiên nhẫn xếp hàng theo thứ tự khi lên xuống tàu ghe có trang bị phao cứu sinh đầy đủ. Hãy bám sát lối đi cầu ván, bậc đá có rào chắn bảo vệ tại các bến sông để đảm bảo hành trình bám theo tiếng đàn, giọng ca diễn ra suôn sẻ và an toàn tuyệt đối.
Du lịch diễn xướng dân gian không đơn thuần là hoạt động thưởng âm hay thỏa mãn nhu cầu giải trí nhất thời, mà còn là công cụ chiến lược để giữ gìn "bản sắc động" của dân tộc và thiết lập hệ sinh thái du lịch trách nhiệm. Dưới đây là góc nhìn mới về xu hướng di sản âm thanh tuần hoàn, giải pháp giữ gìn lõi diễn xướng và bài toán cân bằng lợi ích kinh tế - văn hóa.
Những dự án "Bản đồ thanh âm" và Số hóa di sản sống
Trọng tâm của xu hướng bền vững hiện nay là các dự án tiên phong như: “Ký ức âm thanh miệt vườn” tại các không gian đờn ca tài tử sông nước, “Thư viện số Phum sóc” của người Khmer ở Trà Vinh và mô hình “Số hóa nhạc lễ cổ truyền” ở các lăng miếu cổ Tây Nam Bộ. Các dự án này áp dụng giải pháp lưu trữ tần số âm thanh mộc, ghi âm độ phân giải cao tiếng đờn kìm, đờn cò hòa lẫn tiếng sóng vỗ rì rào; khuyến khích sử dụng mã QR tại khuôn viên chùa để du khách chủ động tra cứu bản dịch sử thi, video tư liệu gốc thay cho tờ rơi giấy, đồng thời thiết lập hệ thống tai nghe chuyên dụng tại hậu trường giúp người xem hiểu sâu cốt truyện kịch hát trước khi ra sân khấu diễn trực tiếp.
Tiếp sức cho cộng đồng bản địa bằng các dự án sinh kế phái sinh
Nguồn thu từ hoạt động lữ hành diễn xướng đang được trích lập trực tiếp vào các xưởng thủ công bản địa để phục dựng nghề đục trống da trâu, làm kèn Saranai, sơn vẽ mặt nạ Chằn lưu niệm, và hỗ trợ chi phí cho người dân quanh vùng mở các hộ homestay, gian hàng bánh dân gian truyền thống phục vụ khách thưởng âm. Sự trân trọng và nhu cầu trải nghiệm văn hóa nguyên bản của du khách đã tạo động lực cho các nghệ nhân lẫn cư dân phum sóc – những chủ thể bảo tồn di sản – tự giác gìn giữ không gian sinh thái miệt vườn lộng gió, đồng thời kiên quyết bài trừ các hiện tượng chèo kéo khách hay dùng nhạc điện tử sập xình làm méo mó tần số âm thanh nguyên thủy của diễn xướng dân gian.