Trong bối cảnh du lịch ngày càng phát triển đa dạng về loại hình và trải nghiệm, du lịch lễ hội đang trỗi dậy như một làn sóng mạnh mẽ, phong tục thờ tự và những câu chuyện huyền thoại luôn được tiếp nối, giữ lửa qua nhiều thế hệ. Việt Nam – vùng đất của hàng vạn hội hè độc đáo quanh năm, từ chốn kinh kỳ cổ kính đến miệt vườn sông nước, kết tinh trọn vẹn đời sống tinh thần hào sảng và lòng biết ơn nguồn cội – du lịch lễ hội không đơn thuần là hành trình du xuân, thưởng ngoạn mà còn là cuộc đại hội ngộ giữa quá khứ và đương đại, nơi du khách được chạm vào tâm hồn của một dân tộc, đồng thời kích giữ sức sống cho những di sản phi vật thể trường tồn cùng thời gian.
Du lịch lễ hội (Festival Tourism) là một loại hình du lịch văn hóa lấy các sự kiện lễ hội làm động lực và mục đích chính cho chuyến đi. Du lịch lễ hội là hoạt động di chuyển của du khách rời khỏi nơi cư trú thường xuyên để đến những địa điểm diễn ra lễ hội truyền thống hoặc hiện đại. Tại đây, du khách tham gia vào các hoạt động chiêm bái, thưởng thức nghệ thuật diên xướng, trải nghiệm các trò chơi dân gian và hòa mình vào bầu không khí sinh hoạt văn hóa cộng đồng đặc sắc. Loại hình này thỏa mãn đồng thời nhu cầu tâm linh, nhu cầu giải trí và khát vọng khám phá chiều sâu văn hóa của điểm đến.
Thời gian qua, nhiều địa phương tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã phát huy giá trị lễ hội trong phát triển du lịch, tạo ra nhiều sự kiện đặc sắc thu hút du khách.
Lễ hội được xem là một tài nguyên đặc biệt khi góp phần tạo điều kiện thuận lợi trong phát triển kinh tế, đồng thời giới thiệu và quảng bá những nét văn hóa đặc sắc của các địa phương, vùng miền đến với du khách trong nước và quốc tế. Thời gian qua, nhiều địa phương tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã phát huy giá trị lễ hội trong phát triển du lịch, tạo ra nhiều sự kiện đặc sắc thu hút du khách.
Tiềm năng du lịch lễ hội vùng ĐBSCL
ĐBSCL hiện có hơn 1.230 lễ hội, trong đó lễ hội dân gian, truyền thống chiếm gần 70%. ĐBSCL là khu vực cư trú của các dân tộc, như Kinh, Hoa, Chăm, Khmer cùng cộng cư, có sự đa dạng bản sắc văn hóa vùng sông nước. Theo đó, các lễ hội tại đây nổi bật với loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian tổng hợp, hội tụ các hình thức văn học, nghệ thuật biểu diễn, tôn giáo, phong tục và tín ngưỡng. Ở ĐBSCL, lễ hội là dịp để trình diễn, giới thiệu với du khách gần xa những giá trị văn hóa độc đáo của vùng về phong tục tập quán, các hình thức giải trí, ẩm thực dân gian… gắn liền quá trình hình thành vùng đất, thích ứng với thời đại. Các lễ hội không chỉ tôn vinh các bậc tiền nhân đã khai hoang mở cõi, mà còn nhắc nhở mọi người về trách nhiệm giữ gìn, xây dựng quan hệ tốt đẹp với người thân trong gia đình, làng xóm, cộng đồng nơi mình sinh sống, góp phần hình thành nên tính cách và văn hóa ứng xử đặc trưng của con người vùng ĐBSCL. Đó là hào sảng, chân thành, nhân nghĩa, mến khách, đoàn kết vượt qua khó khăn, thích ứng và sống chan hòa với thiên nhiên.
Tại ĐBSCL có nhiều lễ hội truyền thống được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, như Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam (An Giang), Lễ hội Đình thần Nguyễn Trung Trực (Kiên Giang), Lễ hội Nghinh Ông (Cà Mau), Lễ hội Kỳ yên Đình Bình Thủy (Cần Thơ)… Đặc biệt, Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Các lễ hội này đều mang bản sắc văn hóa độc đáo của địa phương, hằng năm thu hút đông đảo du khách đến tham gia. Bên cạnh đó, ĐBSCL còn có những lễ hội đậm dấu văn hóa của các dân tộc sinh sống trong vùng, như Lễ hội Ok-Om-Bok, Lễ hội đua bò Bảy Núi của đồng bào dân tộc Khmer; Lễ Ramadan, Lễ hội Roya Haji của đồng bào Chăm; Lễ cúng Bà Thiên Hậu của người Hoa... đều tạo nên sức hút riêng với du khách gần xa.
Phát huy giá trị tiềm năng và sáng tạo các lễ hội để phát triển du lịch
Bên cạnh các giá trị lễ hội truyền thống sẵn có, các tỉnh, thành tại ĐBSCL cũng sáng tạo các sự kiện, lễ hội dựa trên tài nguyên văn hóa bản địa, phát huy thế mạnh về kinh tế, văn hóa địa phương, thúc đẩy du lịch phát triển.
Nhiều lễ hội dần trở thành sự kiện thường niên đặc trưng của địa phương, tạo sức hút về du lịch. Đơn cử như Lễ hội Bánh dân gian Nam Bộ tính đến nay đã có 11 lần tổ chức và đang chuẩn bị kỳ thứ 12 (dự kiến diễn ra từ ngày 04 đến 08/4/2025). Lễ hội không chỉ góp phần bảo tồn và phát huy giá trị bánh dân gian Nam Bộ mà còn là sự kiện thu hút du khách.
Sau thành công của Festival Hoa kiểng Sa Đéc lần thứ 1, Đồng Tháp cũng đang chuẩn bị cho lễ hội lần thứ 2, dự kiến diễn ra từ 27/12/2025 đến 04/01/2026. Còn Festival nghề Muối Việt Nam - Bạc Liêu cũng tạo nên dấu ấn đầy ấn tượng về đặc sản muối và du lịch Bạc Liêu.
Lễ hội là nền tảng để hình thành các sản phẩm du lịch đặc sắc, nhất là du lịch chuyên đề. Trong đó nổi bật có các chuyên đề khám phá về di sản văn hóa, lịch sử, nông nghiệp, nghề truyền thống, ẩm thực… Lễ hội nên được quan tâm đầu tư không chỉ về mặt quy mô mà còn chất lượng. Sản phẩm du lịch từ lễ hội được tổ chức tốt không chỉ góp phần giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc mà còn đưa các địa phương trở thành điểm đến hấp dẫn đối với du khách.
Hiện nay, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành kế hoạch “Bảo tồn lễ hội truyền thống tại các địa phương, khai thác, xây dựng sản phẩm phục vụ phát triển du lịch” với định hướng nâng cao đời sống văn hóa cho cộng đồng, đồng thời khơi dậy niềm tự hào dân tộc và ý thức gìn giữ bản sắc văn hóa thông qua lễ hội truyền thống. Đây cũng là cách thu hút nguồn lực đầu tư từ nhà nước và xã hội, góp phần tạo đà cho phát triển du lịch bền vững. Trên cơ sở này, các địa phương ở ĐBSCL sẽ nghiên cứu và hệ thống lại các lễ hội để có những định hướng, quy hoạch phát triển phù hợp, phát huy giá trị lễ hội kết hợp du lịch bền vững.
Hội đua bò Bảy Núi mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện quá trình liên kết cộng đồng, trở thành một sự kiện văn hóa, một dạng thể thao đại chúng gần gũi với cộng đồng phum sóc, trở thành một nhu cầu văn hóa của đồng bào Khmer vùng Bảy Núi.
Lễ hội Nguyễn Trung Trực (hay Lễ hội đình ông Nguyễn) là sự kiện văn hóa nhằm bày tỏ lòng thành của bà con miền Tây đối với vị anh hùng dân tộc. Không khí nô nức, nhộn nhịp của lễ hội cùng vô số hoạt động đặc sắc nơi đây sẽ mang đến bạn những phút giây khám phá và du lịch Kiên Giang khó quên.
Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam là một lễ hội lớn, mang đậm bản sắc văn hóa của cư dân vùng Tây Nam Bộ diễn ra từ ngày 22 - 27/4 (âm lịch) hàng năm, tại phường Núi Sam (thành phố Châu Đốc). Trong tín ngưỡng của người Kinh, Bà Chúa Xứ nằm trong hệ thống Thánh Mẫu, được tôn thờ trong điện thần và tổ chức các thực hành liên quan như lễ hội, tế lễ và các hình thức diễn xướng dân gian khác. Theo truyền thuyết, Bà Chúa Xứ là người được Ngọc Hoàng sai xuống cứu dân độ thế, canh giữ bờ cõi. Bà cũng là một trong 6 nữ thần bất tử theo tín ngưỡng dân gian (Bà Chúa Bầu, Bà Chúa Liễu, Bà Chúa Tó, Bà Chúa Kho, Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Xứ).
Lễ hội thể hiện bản sắc và sự kế tục của cộng đồng người Kinh trong tiến trình giao lưu tiếp biến văn hóa với người Hoa, Khmer, Chăm. Lễ hội tôn vinh Bà Chúa Xứ cũng là dịp người dân thể hiện tâm thức “uống nước nhớ nguồn”, sự tri ân, tôn kính đối với bà. Theo thời gian, đi viếng bà không chỉ có người dân thành phố Châu Đốc, vùng Tây Nam Bộ, mà người dân khắp mọi miền đất nước. Bên cạnh phần lễ, địa phương còn tổ chức phần hội và các hoạt động văn hóa - thể thao, trò chơi, diễn xướng dân gian nhằm phục vụ và đáp ứng nhu cầu của người dân, du khách.
Lễ hội Nghinh Ông Sông Đốc không chỉ góp phần giáo dục cho thế hệ trẻ địa phương mà còn là một phương thức để bảo tồn di sản văn hóa một cách bền vững thông qua việc tác động đến ý thức và gia tăng kiến thức về di sản cho thế hệ trẻ. Việc tổ chức Lễ Nghinh Ông hằng năm đã tăng cường giáo dục và phổ biến kiến thức về biển đảo Việt Nam đến rộng rãi người dân, là một nhu cầu mang tính thời sự hiện nay. Hoạt động góp phần nâng cao nhận thức và bồi dưỡng lòng yêu quê hương, ý thức giữ gìn chủ quyền biển đảo của mỗi ngư dân khi vươn khơi - bám biển.
Từ ý nghĩa quan trọng đó, công tác tổ chức đã được địa phương thực hiện cẩn thận, chu đáo để vừa giữ gìn giá trị truyền thống của lễ hội, vừa khai thác du lịch, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển; đã có hơn 90 tàu cá đăng ký tham gia nghi lễ rước. Công tác an ninh, an toàn đường thủy và vệ sinh môi trường được đặt lên hàng đầu. Ban Tổ chức đã huy động lực lượng Biên phòng, Công an địa phương túc trực, đảm bảo tàu thuyền di chuyển an toàn trong toàn bộ buổi lễ.
Lễ hội Dinh Cô (còn gọi là vía Cô) là một trong những lễ hội nước lớn nhất của ngư dân vùng biển Nam Bộ. Lễ hội này thuộc loại hình tín ngưỡng thờ Mẫu - Nữ thần, cũng là sự kết hợp của lễ hội cầu ngư với tục thờ cúng Thần biển (Bà Thủy Long, cá voi). Tương truyền cách đây 2 thế kỷ, một trinh nữ tên Lê Thị Hồng (tục danh Thị Cách), quê ở Tam Quan (Bình Định) hay theo cha vào vùng Bà Rịa, Gò Công buôn bán và rất yêu cảnh, mến người, không muốn rời xa vùng đất phía Nam. Cô giàu lòng nhân ái, nhưng chẳng may bị lâm nạn tại Hòn Hang trong một lần theo cha ra biển. Khi đó, Cô vừa tròn 16 tuổi. Ngư dân địa phương đã chôn cất Cô trên đồi Cô Sơn và lập miếu thờ ngoài bãi biển.
Theo truyền thống của đồng bào Chăm, thường chỉ có người đàn ông mới đến thánh đường cầu nguyện; trong khi đó, phụ nữ sẽ thực hiện nghi thức này ở nhà, đồng thời dành thời gian chế biến các món ăn đặc trưng để đón tiếp người thân, bạn bè và khách đến chung vui.
Không chỉ mang ý nghĩa tôn giáo, Tết Roya Haji còn là dịp để các gia đình giáo dục con cháu về đạo lý làm người, tinh thần nhân ái, lòng vị tha và trách nhiệm với cộng đồng. Những câu chuyện về truyền thống dân tộc, những bài học về sự sẻ chia, yêu thương được các bậc cao niên truyền lại cho thế hệ trẻ trong những ngày đoàn viên.
Lựa chọn thời điểm dịch chuyển theo lịch bách nghệ và diễn trình hội làng
Có ba cột mốc bùng nổ hội hè đáng trải nghiệm nhất trong năm: mùa xuân (đại hội tế tự, cầu may đầu năm), mùa hè (hội bơi chải, nghinh ông miệt biển) và mùa thu đông (hội tạ ơn, mừng lúa mới vùng cao). Để bắt trọn mạch ngầm văn hóa, hãy lên lịch vào dịp lập xuân (tháng 1–3 âm lịch) hướng về các vùng đất tổ miền Bắc để xem hội rước kiệu, đấu vật giữa tiết trời mưa xuân lất phất; hoặc chọn các tháng thu mát (tháng 8–10 âm lịch) di chuyển vào miền Trung – Nam để hòa mình vào những đêm hội hoa đăng, cúng trăng rực rỡ sắc màu.
Canh đúng tọa độ thời gian không chỉ giúp bạn chiêm ngưỡng trọn vẹn những lát cắt văn hóa độc bản lúc "mở cửa đình" mà còn tránh được những ngày hội vãn, khi các đoàn diễn xướng dân gian đã tan và không gian chỉ còn lại cảnh thu dọn khán đài trơ trọi.
Lắp ghép lịch trình ngày đầu: tiếp cận vùng lõi, thưởng vị hội làng và nhập cuộc tế lễ
Ngày đầu tiên, bạn nên đón các chuyến xe sớm hoặc tự lái phương tiện cá nhân đi thẳng vào tâm điểm của không gian lễ hội. Khi vừa đến nơi, hãy tìm đến những gánh hàng rong cổ vị hoặc gian nhà chung của làng để thưởng thức các món bánh trái tiến vua, sản vật mùa màng, đồng thời trò chuyện cùng các bô lão trong ban tế tự để nắm rõ hương ước cũng như giai thoại về vị Thành hoàng được thờ phụng.
Sau khi nạp năng lượng, hãy bắt đầu cuộc bách bộ khảo sát quanh sân đình, sử dụng máy ảnh góc rộng thu trọn dòng người trẩy hội rầm rập cờ hoa, rồi chọn một vị trí tôn nghiêm để quan sát các nghi thức đọc chúc văn, dâng hương cổ kính. Khi hoàng hôn buông xuống, hãy chọn lưu trú tại các nếp nhà sàn, homestay mộc mạc ngay trong làng để không bỏ lỡ các canh hát đối đáp, hội bài chòi hay các trò chơi dân gian rộn rã trống gõ thâu đêm.
Sắp xếp hành lý và bộ công cụ tác nghiệp mùa hội hè
Đối với du lịch lễ hội, bạn cần chuẩn bị: các bộ cổ phục hoặc trang phục kín kẽ, trơn màu (tạo sự tôn nghiêm khi hành lễ), áo khoác mỏng chắn sương đêm, ô giấy hoặc nón lá che nắng gió, và một đôi giày vải đế bệt, ôm chân để thoải mái len lỏi qua các đoạn đường đất dốc hay bậc đá rêu phong. Ngoài ra, hãy mang theo máy ảnh gắn ống kính đa dụng (zoom) để linh hoạt bắt nét từ các chi tiết phục trang tinh xảo của đội tế đến toàn cảnh dòng người kiệu rước, cùng một cuốn sổ tay nhỏ để ghi chép lại lời các bài văn tế, câu hát cổ.
Đặc biệt, đừng quên mang theo một chiếc túi đeo chéo có khóa bảo vệ an toàn để áp sát trước ngực nhằm quản lý ví tiền, giấy tờ giữa chốn đông người chen chúc, cùng vài thanh năng lượng nhỏ để bù sức kịp thời trong suốt hàng giờ liền bám theo đoàn rước.
Bảo toàn cá nhân và ứng xử văn minh nơi chốn đông người
Khi hòa mình vào dòng người trẩy hội, luôn chú ý quan sát và giữ khoảng cách an toàn với các khu vực đốt vàng mã lớn, đoàn rước kiệu đang di chuyển nhanh hoặc các nghi thức có dùng binh khí cổ, lửa đuốc. Tuyệt đối không tự ý chạm tay vào đồ tế khí, bảo vật tâm linh hoặc chen lấn vào không gian hành lễ nghiêm trang của ban tế tự nhằm tránh các va chạm nguy hiểm và không vi phạm quy tắc hành xử nơi thờ tự.
Nếu tham gia các trò chơi dân gian có tính đối kháng cao như cướp lộc, đấu vật, đua thuyền, hãy tuân thủ nghiêm ngặt luật chơi của ban tổ chức, tránh tâm lý kích động quá khích và luôn chú ý bảo quản tài sản cá nhân trước nạn móc túi bằng cách quay ba lô, túi xách ra phía trước ngực.
Giải pháp giao thông và phương án dịch chuyển mùa cao điểm
Các không gian lễ hội lớn thường áp dụng lệnh cấm đường, phân luồng từ xa khiến giao thông nội khu ùn tắc, vì vậy bạn nên gửi xe tại các bãi xe chính quy và lựa chọn bách bộ kết hợp xe điện trung chuyển để tiếp cận vùng lõi.
Đối với các lễ hội mang tính đặc thù địa hình như hội đua ghe ngo miền sông nước, hội rước cá vượn biển hay hội đền sơn cước, hãy kiên nhẫn xếp hàng theo thứ tự khi sử dụng tàu ghe có phao cứu sinh, cáp treo hoặc bám sát lối đi bậc đá có lan can bảo vệ để đảm bảo chuyến đi diễn ra suôn sẻ, an toàn.
Du lịch lễ hội không đơn thuần là hoạt động trẩy hội hay thỏa mãn nhu cầu tâm linh nhất thời, mà còn là công cụ chiến lược để giữ gìn "bản sắc động" của dân tộc và thiết lập hệ sinh thái du lịch trách nhiệm. Dưới đây là góc nhìn mới về xu hướng hội hè tuần hoàn, giải pháp giữ gìn lõi di sản và bài toán cân bằng lợi ích kinh tế - văn hóa.
Những dự án "Lễ hội xanh" tái định hình trải nghiệm du khách
Trọng tâm của xu hướng bền vững hiện nay là các dự án tiên phong như: “Hành trình tâm linh không rác thải nhựa” tại quần thể di tích Yên Tử (Quảng Ninh), “Tuần lễ Festival xanh” tại Cố đô Huế và mô hình “Lễ hội sông nước tuần hoàn” ở miền Tây Nam Bộ. Các dự án này áp dụng giải pháp thay thế triệt để chai nhựa, túi nilon bằng các vật liệu hữu cơ dễ phân hủy từ tre mây, lá sen; khuyến khích số hóa sớ cầu an để hạn chế tối đa việc đốt vàng mã gây ô nhiễm khói bụi, đồng thời sử dụng 100% hệ thống phương tiện giao thông chạy bằng điện để đưa đón khách trẩy hội.
Tiếp sức cho cộng đồng bản địa bảo tồn hồn cốt hội làng
Nguồn thu từ hoạt động lữ hành lễ hội đang được trích lập trực tiếp vào các quỹ bảo tồn để phục dựng các điệu múa cổ, ghi âm tư liệu các bài văn tế cổ, và hỗ trợ phụ cấp cho các nghệ nhân lão thành mở lớp truyền dạy nghệ thuật dân gian (như hát quan họ, xoan, hay cồng chiêng) cho thế hệ trẻ. Sự trân trọng và nhu cầu trải nghiệm văn hóa nguyên bản của du khách đã tạo động lực cho người dân địa phương – những chủ thể văn hóa – tự giác gìn giữ không gian kiến trúc cổ kính của đình đền, miếu mạo, đồng thời kiên quyết bài trừ các hiện tượng mê tín dị đoan hay thương mại hóa làm biến dạng giá trị cốt lõi của lễ hội.